CỘNG ĐOÀN HÀNH HƯƠNG ÂU CHÂU
tổ chức
(INTRODUCTION) Anh chị em thân mến,
Hôm nay,
chúng ta quy tụ tại Thánh địa Đức Mẹ Banneux để hiệp dâng Thánh lễ tạ ơn nhân dịp
Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, cha sở giáo xứ Tắc Sậy, được Đức Hồng
y Luis Antonio Tagle tuyên phong Chân phước vào ngày 2 tháng 7 năm 2026.
Chân phước
Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại Long Xuyên. Sau khi được thụ
phong linh mục năm 1924, ngài đã dành phần lớn đời mình phục vụ tại giáo xứ Tắc
Sậy. Trong thời kỳ đất nước đầy biến động, ngài đã chọn ở lại với đoàn chiên dù
biết rõ những nguy hiểm đang chờ đợi mình. Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài đã hiến
dâng mạng sống vì Đức Kitô và vì những người giáo dân được trao phó cho ngài.
Cuộc đời và sự
hy sinh của Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp tiếp nối truyền thống đức
tin anh hùng của các thế hệ Kitô hữu Việt Nam, những người trong suốt gần năm
thế kỷ đã can đảm trung thành với Đức Kitô, sẵn sàng chịu thử thách để sống và
làm chứng cho Tin Mừng, cho công lý, hòa bình và tình yêu thương.
Trong Thánh lễ
hôm nay, chúng ta cũng hiệp lời cầu nguyện cho tất cả những Kitô hữu đang bị
bách hại trên khắp thế giới vì trung thành với Đức tin và vì can đảm làm chứng
cho Tin Mừng giữa những hoàn cảnh khó khăn.
(Bài giảng) Anh chị em
thân mến,
Đã gần năm thế
kỷ kể từ ngày Tin Mừng được loan báo trên quê hương Việt Nam. Trong suốt hành
trình ấy, Giáo Hội Việt Nam luôn hãnh diện về biết bao người con đã trung thành
với Đức Kitô cho đến mức hiến dâng mạng sống mình. Cách riêng, chúng ta tưởng
nhớ 117 Thánh Tử đạo Việt Nam, những chứng nhân đức tin đã chịu bách hại dưới
các triều vua nhà Nguyễn, từ Minh Mạng đến Tự Đức.
Những thử
thách ấy vẫn tiếp tục trong dòng lịch sử. Trong thế kỷ XX, nhiều Kitô hữu Việt
Nam đã chịu tù đày, phải rời bỏ quê hương hoặc hy sinh mạng sống vì trung thành
với đức tin. Đặc biệt, cuộc di cư của hàng trăm nghìn người Công giáo từ miền Bắc
vào miền Nam năm 1954, dù là một biến cố đau thương, nhưng trong chương trình
quan phòng của Thiên Chúa, lại góp phần đưa Tin Mừng đến với nhiều vùng đất mới.
Lời của giáo
phụ Tertullianô: “Máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu” đã được
chứng thực trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam và vẫn tiếp tục sinh hoa kết trái
hôm nay.
Khi đến Việt
Nam năm 2007, tôi đã rất cảm phục trước sức sống của Giáo Hội nơi đây: những
Thánh lễ sáng sớm, những cộng đoàn cầu nguyện sốt sắng, các hoạt động bác ái của
các dòng tu, sự hiện diện đông đảo của các linh mục, tu sĩ và nhiều dấu chỉ
khác cho thấy một Giáo Hội sống động, bén rễ sâu trong đức tin và tình yêu
thương.
Ơn gọi dâng
hiến cũng là một dấu chỉ đáng vui mừng. Trong nhiều hội dòng, các bạn trẻ vẫn
quảng đại đáp lại tiếng gọi của Đức Kitô và sẵn sàng lên đường phục vụ Giáo Hội
ở nhiều nơi trên thế giới. Chính tinh thần truyền giáo ấy cũng đang được thể hiện
nơi cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại châu Âu, và sự hiện diện của anh chị em
hôm nay tại Banneux là một chứng tá thật đẹp.
Tuy nhiên,
thưa anh chị em, Giáo Hội Việt Nam cũng đang đối diện với những thách đố giống
như nhiều Giáo Hội tại phương Tây. Xã hội Việt Nam đang thay đổi rất nhanh
chóng: từ một đất nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nay trở thành một xã hội
công nghiệp và dịch vụ. Nhiều người rời bỏ môi trường truyền thống để đến các
thành phố lớn, và đôi khi những lo toan vật chất làm cho đời sống thiêng liêng
bị lãng quên.
Những thay đổi
ấy không phải là lý do để chúng ta bi quan, nhưng là lời mời gọi Giáo Hội canh
tân cách loan báo Tin Mừng. Tin Mừng của Đức Kitô luôn bất biến, nhưng cách diễn
tả và phương thức truyền đạt cần được đổi mới để có thể chạm đến con người hôm
nay.
Internet và
các phương tiện truyền thông kỹ thuật số cũng đang làm thay đổi sâu sắc lối sống
của con người. Người trẻ ngày nay không chỉ cần được truyền đạt kiến thức đức
tin, nhưng còn cần được đối thoại, được hiểu và được giúp gặp gỡ Đức Kitô cách
cá nhân.
Anh chị em
thân mến,
Kitô giáo
không biến mất, dù ở Việt Nam hay ở châu Âu. Nhưng chúng ta đang bước từ một đời
sống Kitô hữu dựa nhiều trên truyền thống và môi trường xã hội sang một đời sống
đức tin cá vị hơn, tự do hơn và được xây dựng trên cuộc gặp gỡ thật sự với Đức
Kitô.
Ngày hôm nay,
tôi không tin chỉ vì mọi người chung quanh tôi tin; tôi tin vì Đức Kitô đã gặp
gỡ tôi, vì Người đang sống trong cuộc đời tôi và vì tôi cảm nghiệm được tình
yêu quan phòng của Người.
Đức tin ấy mời
gọi chúng ta trở thành những chứng nhân. Chúng ta được mời gọi đào sâu hiểu biết
về đức tin, sống khiêm tốn, phục vụ những người bé nhỏ và làm cho niềm vui được
làm Kitô hữu trở thành một chứng tá đơn sơ nhưng đầy sức thuyết phục.
Như thế,
chúng ta rời bỏ hình ảnh của một Giáo Hội chỉ dựa trên sức mạnh hay vị thế xã hội
để trở thành một Giáo Hội của những chứng nhân, một Giáo Hội của những vị tử đạo
trong thời đại hôm nay: những người dám sống khác với xu hướng của thế giới vì
đã tìm thấy kho báu đích thực là Đức Kitô.
Tôi xin kết
thúc bài giảng bằng lòng biết ơn sâu xa đối với dân tộc Việt Nam và Giáo Hội Việt
Nam, nơi đã đón nhận và đồng hành với tôi trong suốt mười sáu năm qua. Tôi đã học
được nơi đây nhiều giá trị quý đẹp: sự hài hòa trong đời sống, lòng kính trọng
đối với các bậc cao niên, niềm vui giữa những thử thách, và nhất là một đức tin
vững mạnh, trong đó đời sống thánh hiến được trân trọng.
Nếu hôm nay
tôi được trở thành một giám mục, thì đó là nhờ một phần rất lớn vào những gì
anh chị em đã trao ban cho tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn anh chị em từ tận đáy
lòng.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét